Mẹo hay cho bạn

Theo các nhà chuyên môn, ẩm thực cần đa dạng mới đủ chất.

Tuy nhiên nếu thiếu hiểu biết, ăn không đúng thì một số thực phẩm có thể “đánh nhau” trong bao tử bạn. Một số ít lại tạo phản ứng hóa học ngay trong …bụng mà người yếu có thể …ngủm sau khi ăn.

  1. Đậu nành ăn với mật ong

Ai cũng biết mật ong là thực phẩm và cũng là vị thuốc bổ tuyệt vời. Nhiều chị dùng sữa bò trộn mật ong đắp lên mặt thì da mịn màng, trắng sáng. Nhưng nếu lấy mật ong hòa chung với sữa đậu nành để uống thì mật ong sẽ làm đông vón protein trong đậu nành. Đang từ một loại sữa dễ tiêu hóa nay hỗn hợp cứ “đứng” trong bao tử tạo ra trạng thái “Đi cũng dở, ở không xong” mà cứ “lình bình”, khiến ai nấy đều ở trong trạng thái “tức thở”. Hai món này được xếp vào hệ “tương khắc”

Không nên uống sữa đậu nành chung với mật ong Có người nấu sữa đậu nành nhưng đã không đun đến nhiệt độ sôi. Trong đậu nành sống chứa enzym ngăn cản sự hoạt động của trypsin và còn có soyin là một protein có độc tính ức chế hoạt động của hoocmon tuyến giáp, bởi vậy người ta bảo đậu nành gây bướu cổ. Nhưng nếu nấu chín thì những chất này đều bị nhiệt phân hủy.

  1. Chiên trứng vịt với tỏi

Từ lâu, dân ta vẫn truyền miệng rằng chiên trứng vịt không được dùng tỏi. Lí do là tỏi có chứa một lượng tinh dầu tạo mùi khi gặp albumincủa lòng trắng sẽ kết hợp sinh ra sản phẩm độc. Alixin là một kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn trong tỏi khi trộn với lòng trắng trứng thì nó bị mất tác dụng hoàn toàn.

Khi chiên trứng vịt thì không được dùng tỏi

  1. Uống trà và ăn trái cây tráng miệng sau bữa ăn Sau bữa ăn, chúng ta thường hay uống trà. Như vậy chất tanin trong trà sẽ làm vón protein, gây chứng khó tiêu. Ngoài ra còn có thói quen ăn trái cây sau mỗi bữa. Hãy cẩn thận nếu bạn ăn một bữa hải sản có hàm lượng protein và canxi phong phú sau đó lại ăn trái hồng hoặc nho. Axit tanic trong hồng hoặc nho sẽ làm đông vón protein của hải sản, chúng trở thành món khó tiêu, cứ buộc bao tử hết nhào đến trộn mà không dồn xuống ruột được vì qui trình “tiêu hóa” đám hải sản kia chưa xong.

a) Giới thiệu Axit ascorbic (còn được gọi là vitamin C) được tìm thấy nhiều nhất trong trái cây và là chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự sống của sinh vật. Ở lĩnh vực hóa sinh, nó là chất chống oxi hóa, tham gia vào các quá trình tổng hợp enzim, tăng sức đề kháng, phục hồi sức khỏe, đặc biệt ngăn ngừa bệnh scurvy ở người. Axit ascorbic còn được dùng làm chất bảo quản thực phẩm và làm hương vị cho một số loại nước uống. Lượng vitamin C có trong nhiều loại trái cây: trong 100g ớt đỏ có 1900mg, trong đu đủ, dâu, cam, chanh có từ 40-60mg.

Các loại trái cây có vị chua thường chứa nhiều vitamin C

b) Thông tin tổng quát – Tên theo IUPAC: 2-oxo-L-threo-hexono-1,4- lactone-2,3- enediol

– Tên thông thường: axit ascorbic, vitamin C

– Công thức phân tử: C6H8O6

– Khối lượng phân tử: 176,13 g/mol – Có dạng: bột màu trắng đến vàng nhạt (khan) – Nhiệt độ nóng chảy: 193oC (phân hủy) – Khả năng hòa tan trong nước: cao

c) Tính chất Dù trong CTCT không có nhóm –COOH nhưng vitamin C vẫn có tính axit. Nó có tính chất hóa học tương tự các axit thông thường, có khả năng bị oxi hóa và bị phân hủy thành CO2 và nước ở 193oC. d) Lịch sử tìm ra

– Vào thế kỷ 15, 16, trong cuộc phát kiến địa lý của các nước châu Âu, những nhà thám hiểm luôn thấy thủy thủ của họ phải chết vì căn bệnh kỳ lạ với triệu chứng mệt mỏi, đau khớp, chảy máu nướu,… Đó là bệnh Scurvy (hay Scorbut). – Mãi đến năm 1774, James Lind, bác sĩ hàng hải quý tộc Anh, đã phát hiện ăn trái cây sẽ phòng tránh được bệnh scurvy. Ông cho rằng những người thủy thủ đi biển chỉ tiếp xúc những món ăn khô, mặn, ít ăn trái cây đã dẫn đến căn bệnh trên. Kinh nghiệm của Lind đã cứu sống rất nhiều thủy thủ trong những chuyến hành trình bằng đường biển sau này.

Bác sĩ James Lind đã phát hiện ăn trái cây (có chứa vitamin C) sẽ phòng tránh được bệnh scurvy – Người đã nghiên cứu kỹ về vitamin C là Albert SzentGyörgyi (1893-1986) gốc Hungary và ông được trao giải Nobel y học năm 1937 về công lao trên. Cũng vào năm đó, giải Nobel hóa học được trao cho Walter Norman Haworth, người Anh, tổng hợp thành công vitamin C. Tuy nhiên, quy trình tổng hợp vitamin C lại có tên là Tadeus Reichstein, người cũng tổng hợp thành công vitamin C cùng lúc với Haworth (2 người tìm ra cách tổng hợp hoàn toàn độc lập).

Điều này sẽ làm cho giá thành vitamin C rẻ hơn rất nhiều, vì trước đây vitamin này được chiết ra từ trái cây bằng phương pháp khá phức tạp. Hiện nay, vitamin C không còn lạ với mọi người. Từ trái cây cho đến nước uống, từ viên thuốc cho đến kẹo ngậm, đều có sự hiện diện của nó. e) Tầm quan trọng của vitamin C đối với sức khỏe con người • Kìm hãm sự lão hoá của tế bào: nhờ phản ứng chống oxy hoá mà vitamin C ngăn chặn ảnh hưởng xấu của các gốc tự do, hơn nữa nó có phản ứng tái sinh mà vitamin E – cũng là một chất chống oxy hoá – không có. • Kích thích sự bảo vệ các mô: chức năng đặc trưng riêng của viamin C là vai trò quan trọng trong quá trình hình thành collagen, một protein quan trọng đối với sự tạo thành và bảo vệ các mô như da, sụn, mạch máu, xương và răng. • Kích thích nhanh sự liền sẹo: do vai trò trong việc bảo vệ các mô mà vitamin C cũng đóng vai trò trong quá trình liền seo.

• Ngăn ngừa ung thư: kết hợp với vitamin E tạo thành nhân tố quan trọng làm chậm quá trình phát bệnh của một số bênh ung thư (vòm miệng, dạ dày.v.v…) • Tăng cường khả năng chống nhiễm khuẩn: kích thích tổng hợp nên interferon – chất ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn và virut trong tế bào. • Dọn sạch cơ thể: vitamin C làm giảm các chất thải có hại đối với cơ thể như thuốc trừ sâu, kim loại nặng, CO, SO2, và cả những chất độc do cơ thể tạo ra. • Chống lại chứng thiếu máu: vitamin C kích thích sự hấp thụ sắt bởi ruột non. Sắt chính là nhân tố tạo màu cho máu và làm tăng nhanh sự tạo thành hồng cầu, cho phép làm giảm nguy cơ thiếu máu. Nếu thiếu C, cơ thể người mất dẫn sức đề kháng, có nguy cơ mắc bệnh Scurvy cao. Tuy nhiên, cơ thể được cung cấp nhiều C hơn so với bình thường thì có xu hướng giảm lượng hấp thu và đào thải sinh tố C một cách hoang phí trong nước tiểu, lâu ngày có thể dẫn đến rối lọan tiêu hóa, thừa sắt trong máu, giảm độ bền hồng cầu, đặc biệt là sỏi thận (canxi oxalat) do tạo axit oxalic là sản phẩm của sự dư thừa axit ascorbic…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *